Góc biển chân trời

02 Tháng Mười Một 20156:11 CH(Xem: 5992)
Góc biển chân trời
Anh thân kính,

 

Chắc anh nhận được thư này của em viết hơn mười trang giấy gửi cho anh trong một phong bì dầy cộm, anh ngạc nhiên lắm nhỉ. Nhưng khi đọc xong chừng hai trang anh sẽ hiểu lần này là đặc biệt, không như thường lệ, từ ngày di tản, gia đình mình anh em mỗi người ở một phương trời, hàng tuần  liên lạc với nhau qua những lần điện thoại ngắn ngủi, và thường ngày chỉ là những dòng điện thư cho biết công việc và nhất là hỏi thăm nhau về sức khoẻ của mẹ.

 

Lần này viết cho anh vì em còn nhớ khi xưa anh thường bảo có việc gì hay phải nói cho anh biết. Không những anh là người anh lớn trong nhà mà anh lại còn được bố giao cho công việc phải kèm mấy đứa em sao cho học giỏi, nên những lời anh dặn dù trải qua bao năm tháng không bao giờ em lãng quên. Em còn nhớ những buổi học tối, căn phòng học trở nên yên tĩnh với tiếng phấn viết trên bảng đen chậm chạp, anh bao giờ cũng nghiêm khắc trong giờ dậy học các em, nhất là với em vốn rất dốt toán chỉ mê môn văn chương có lẽ do chịu ảnh hưởng bởi những lời khen tặng của bố mỗi khi mình đạt điểm cao nhất lớp trong môn luận văn.

 

Có một lần em  đọc được một mẩu chuyện cười trên một tờ báo cũ dùng  để gói cau khô cho bà, có câu chuyện dí dỏm về một học trò đã được thầy giáo hỏi biết gì về Lục Vân Tiên, cậu ta lúng túng trả lời Lục là sáu, Vân là mây, nghĩa là có Sáu ông Tiên trên Mây, câu chuyện chỉ có như thế nhưng lối em kể lại cho cả nhà trong giờ cơm chiều đã làm bố cười ha hả và nói rằng: “con bé nầy xem ra giỏi Việt văn đấy!” Cũng từ đó ảnh hưởng lời nói của bố đã khiến em  không còn ý thức về môn toán, vì thế mỗi giờ kèm toán của anh là một cực hình với em, có lần em đã đông lạnh não bộ khi anh bảo làm một bài phân số, dạo đấy em thật ngu ngốc đến độ thừ ra nhìn vào mặt bảng, và trong đầu chỉ mong cho hết giờ học, và anh  đã quát và mắt thì trợn lên đầy bực bội vì em  ngu quá! Anh bực mình có lẽ vì em là cô bé được anh thương chiều nhất trong các em nhưng lại luôn tỏ ra ngớ ngẩn trong giờ học toán của anh, và anh đã hỏi Tâm đang ngồi học bên cạnh, vì Tâm nhỏ tuổi và nhỏ lớp hơn em nhưng nó đã giải được bài toán và kết quả em bị anh vặn tai và còn làm cho Tâm vênh mặt lên với chị  để cho em thấy nhục mà học. Cái vụ này khiến em đã  ghét anh  nhiều ngày, để rồi em cứ mong anh đi lính để cho biết cái khổ của đời lính với những kỷ luật trong những tháng huấn nhục vì em nghe bố nói vào lính khổ nhất là những ngày ở trong quân trường huấn luyện.

 

Còn nhớ trên tường phòng học của nhà mình lại có bức hình ông già tóc rối bù, em nghe anh nói  đó là ông Einstein, một nhà bác học uyên thâm, vì anh học Đại học Khoa học Saigon nên  Einstein đối với anh là một thần tượng. Có một hôm, không kiên nhẫn nổi với cái đầu óc ngu muội về toán của em, anh đã thốt lên:“đến thầy Vinh cũng không dậy nổi được cô!”. Câu nói của anh làm em nghĩ rằng thầy Vinh nào đó của anh phải giỏi hơn ông Eisntein anh mới nói vậy. Về sau, nghe được những câu chuyện anh trao đổi với các bạn lúc họ đến nhà chơi, em mới biết ra ông thầy đó là Đại tá Tư lệnh Không quân Nguyễn Xuân Vinh, vốn người tuổi trẻ tài cao, có bằng cử nhân Toán ở Pháp về và mỗi tuần ông có đến dậy mấy giờ ở trường Trung học Chu Văn An, theo lời yêu cầu của Bộ Quốc gia Giáo dục. Về sau em lại nghe thấy các anh nói là lúc lên tới lớp đệ Nhất ban B thì ông thầy Vinh đã treo ấn từ quan đi Mỹ du học từ mấy năm trước và trở thành một Khoa Học Gia siêu việt được nhiều người ngưỡng mộ, và các anh đã tiếc hùi hụi là không được học với ông như các bạn ở mấy lớp trên phải không? Thế là thầy Vinh cũng không dậy nổi được anh, chứ không riêng gì em mà ông thầy lại chê!

 

Cũng có lần em đã hỏi anh về Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh như thế nào, và tại sao anh bảo là giỏi nhất VN, nhưng xem chừng anh cho em  là trẻ con nên không trả lời và đó là điều làm em ấm ức lắm. Thời gian đã đi qua trong nhiều dâu bể, và Việt Nam cũng trăn trở với những đau khổ triền miên vì chiến tranh, nỗi khốc hận nhọc nhằn thấm vào máu thịt Việt Nam trong từng gia đình, bởi vì nhà nào có con trai cũng xung vào quân đội để đáp ứng nhu cầu chiến trường khi chiến sự gia tăng từng ngày. Trong nhà mình có năm người con trai đã vào đại học, hoặc xong tú tài đôi nhưng không người nào đậu đại khoa vì các anh đều nhập ngũ.

 

Em  đã nghe bố nói chuyện với các anh về quyết định chọn binh chủng nào để gia nhập, với kiến thức của một sĩ quan từng chỉ huy, bố mình đã hiểu rất rõ về trọng yếu của mỗi quân binh chủng, và cả sự cần thiết của những lực lượng trừ bị hay bán quân sự như Xây dựng Nông thôn, Địa phương quân hay Nghĩa quân. Dù còn nhỏ nhưng em thật hiếu kỳ khi nghe bố nói chuyện về quân đội với mọi người. Rồi cũng có lần em nghe bố nhắc đến Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh là người được Tổng Thống Ngô Đình Diệm giao cho chức vụ chỉ huy Không quân khi tuổi chỉ mới 28 mà thôi, cũng là người mà bố đã gặp khi ông còn là một đại úy bay một phi vụ liên lạc ra vùng hành quân của bố. Không biết có phải vì thế mà bố đã bằng lòng gả chị K cho anh N là một sĩ quan Không quân hay không trong khi các anh đều phê bình là các anh phi công đều hào hoa bay bướm, như tả trong cuốn truyện “Đời Phi Công”, đã được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc mà tác giả cũng là  Tư lệnh Nguyễn Xuân Vinh này. Những mẩu chuyện mà em nghe được khi còn nhỏ do các anh và cả bố kể lại, đã gây cho em một ấn tượng về một con người như là một huyền thoại, và đôi khi em tự hỏi là người Thầy của các anh là người ra sao mà lại đạt được văn võ song toàn như thế?

 

 

Anh ạ,

 

Cuộc đời có những hoang tưởng, những mơ ước, những hy vọng và hạnh phúc hay khổ đau. Đối với em, một trong những hoang tuởng đó là được gặp một lần Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh, để biết rõ về con người đã tạo sự ngưỡng mộ cho những tuấn kiệt Việt Nam và cơ hội để trở thành những phi công của đất nước, người mà qua bút pháp, đã có những áng văn làm nên lịch sử cho một quân chủng hào hùng, và cũng là người tạo được niềm tự hào cho dân tộc qua kỳ tích khoa học ưu tú của mình. Hy vọng như một dạ khúc cũng đã bay bổng khi em nhận được tấm ảnh của anh chụp khi anh thăm phòng triển lãm của NASA ở Houston, bức ảnh anh đứng bên cạnh phi thuyền Apollo, dù anh chỉ muốn giới thiệu về những sinh hoạt tại Hoa Kỳ của anh nhưng  viết kèm trong thư anh cũng nói rằng ông  Nguyễn Xuân Vinh đã có nhiều đóng góp vào chương trình Không gian của Hoa Kỳ. Em nghĩ khi nhắc đến Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh thì em đã hiểu Giáo Sư cũng đã ảnh hưởng con người cao ngạo của anh, vì anh đẹp trai, học giỏi và cũng được nhiều người chú ý.

 

Sau quốc biến năm 1975, đại gia đình chúng ta sống tản mạn ở khắp bốn phương trời. Những kỷ niệm của thời xưa cũ lại trở về mỗi khi em bắt gặp một hình ảnh thân quen nào đó, và vì làm công việc của một phóng viên truyền thanh ở Sydney em đã nhận được đề nghị của ông giám đốc chương trình để thực hiện cuộc phỏng vấn một nhân vật lỗi lạc của Việt Nam ở thế kỷ hai mươi, người đã tạo niềm hãnh diện cho quê hương bằng trí tuệ và tài năng của mình, khi ông sang đây để thăm các Hội cựu chiến sĩ VN và gặp nhiều vị Thượng nghị sĩ Liên bang ở Thủ Đô Canberra . Và nguời ấy không ai khác hơn là Khoa Học Gia Tiến sĩ, Giáo Sư Đại Học Nguyễn Xuân Vinh mà thế hệ chúng mình, nhiều người dù không theo học ông cũng gọi là Thầy. Em nghĩ thật không có từ nào xứng đáng hơn để gọi ông vì những chức tước ông đã mang, hay những bằng cấp ông đã có trong nửa thế kỷ hoạt động về văn học, giáo dục và khoa học để phục vụ cho quốc gia, dân tộc và nhân loại, nói theo nhà văn Phan Nhật Nam, trong phương diện nào ông cũng xứng đáng là bậc Thầy.

 

Con người ai cũng có bản năng và bản ngã, đó là điều mình luôn nhận định như vậy khi đối diện bất kỳ nhân vật nào để tránh cho mình không tự tôn hay tự ty trong cư xử và tiếp xúc bên ngoài, và GS Nguyễn Xuân Vinh là tiêu biểu cho người nhiều bản năng, nhưng lại không phải là người nặng về bản ngã để tạo sự xa cách với mọi người dù ông có đứng ở vị trí nào trong xã hội chăng nữa. Trước kia em luôn nghĩ rằng có lẽ khó mà gặp được Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh, nhưng bây giờ em đã gặp ông, và có dịp nhiều lần hỏi chuyện, để có cơ hội biết thêm thần tượng của anh em chúng ta là một người khoa bảng, mà lại có tấm lòng nhân hậu, có trách nhiệm với gia đình và đặc biệt là người hết lòng yêu nước và quan tâm đến những vấn đề của giới trẻ.

 

Thầy Vinh thật xứng với lòng anh tôn kính, nếu ai được tiếp xúc và làm việc với ông đều có cảm nhận gần gũi như vậy nếu là người có tâm, có trí, có chữ tín và lòng biết ơn. Thưa anh, vì sao em nói như vậy.  Không phải sự thành công nào của cá nhân và sự hy sinh nào để phục vụ quốc gia dân tộc cũng được đón nhận bằng lòng thương mến đạt dào hay sự kính trọng của người đồng hương. Bao giờ cũng có những người vẫn còn tỵ hiềm ganh ghét với những gì người khác có được nhưng họ không có, và thường thì những người này  vì trình độ trí tuệ thấp kém nên họ không đủ lý trí để hiểu rằng muốn được những điều đó người ta phải trả giá cho những thử thách trong cuộc sống. Đã có lần, trong thư viện em đọc được những câu thơ  Thầy đã dịch bài thơ của Lê Quát là một cao đồ của Chu Văn An, ngưòi mà Thầy lấy làm gương mẫu, để bộc lộ tâm sự mình. Vì thấy hay mà em đã ghi vào cuốn sổ cẩm nang của mình

 

Thư Hoài

 

Cuộc đời trái với sự lòng,

Hướng về quê cũ, ngâm dòng Thức Vi.

Nước triều, trời lạnh năm đi,

Mộc lan tàn cánh hoa vì mưa bay.

 

Thái độ của Thầy, coi những sự ganh ghét như là thường tình của sự đời,  thật đáng làm cho người ta khâm phục, nhưng vào dịp này em muốn viết để trả lời một nhóm dấu tên nhưng em nghĩ là họ là những kẻ thiếu trí tuệ, thiếu nhân tâm, đang bị Cộng Sản lợi dụng và tìm cách hạ uy tín của những người được cộng đồng người Việt qúy mến trong đó có Thầy Nguyễn Xuân Vinh của chúng ta.

 

Anh biết không, vì ngưỡng mộ tài năng và tâm đức của thầy mà một số trí thức quan tâm đến tiền đồ văn hoá dân tộc đã mời Thầy cùng đồng ý cho thành lập một hội khuyến học ở thành phố St Louis, thuộc tiểu bang Missouri, lấy tên là Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh và từ nhiều năm qua đã phát giải thưởng và khuyến khích các học sinh Việt Nam chăm chỉ học hành, giữ truyền thống hiếu kính cha mẹ và hăng hái tham gia sinh hoạt cộng đồng. Em cũng được biết Thầy đã tặng cho Hội bản quyền cuốn“Đời Phi Công” để xuất bản gây qũy sinh hoạt của hội. Tuy nhiên ngoài những hoạt động mà Hội đã đưa ra những thành tích của Thầy để làm gương sáng cho giới trẻ, có những điều mà ít ai được biết, mà qua những  cuộc phỏng vấn Thầy, em đã lục khắp các thư mục điện tử của hệ thống Đại học và Báo chí Hoa Kỳ để góp nhặt thêm nhiều tài liệu. Trong những tài liệu này em chọn đưa ra mấy điều Thầy làm ngoại vi, không những thế nó còn là   trong công việc chính của Thầy mà anh và các bạn ít ai biết.

 

Trước đây anh có  than phiền về những lời  xúc phạm Thầy mà anh đọc được trên vài diễn đàn điện tử, do những kẻ  tiểu nhân đố kỵ thường đặt ra vấn đề là tại sao Thầy lại chọn ở lại Hoa Kỳ để theo ngành giáo dục và khoa học, mà không trở về nước sau khi tốt nghiệp. Họ đâu có biết là tầm hoạt động rộng lớn của Thầy đã giúp rất nhiều cho uy tín của quốc gia và dân tộc trên trường quốc tế. Em đã tìm hiểu thêm và rất may em được biết trong Bộ Bách Khoa Điện Tử Quốc Tế Wikipedia có đăng tiểu sử của Thầy cả phần Việt ngữ lẫn Anh ngữ, và nếu ai theo trong đó mà tìm đọc cả những phần tài liệu tham khảo thì thấy có danh sách những bằng khen thưởng và những tấm bảng lưu niệm đã tặng Thầy, thật nhiều vô kể, và anh sẽ thấy có kỷ vật của hầu hết các hội đoàn Không quân Việt Nam trên thế giới. Như thế chứng tỏ rằng các chiến hữu trước kia của Thầy không bao giờ nghĩ là Thầy đã quên anh em, đã bỏ bạn bè, và trong những lần Thầy đi tham dự những Hội nghị khoa học ở nhiều nơi trên thế giới, do lời mời của các hội đoàn Thầy đã tới nói chuyện và gặp gỡ các anh em. Câu nói của Thầy là một ngày mặc áo lính, suốt đời là chiến binh đã được nhiều người nhắc lại, và trong khi có những kẻ đã thực sự đầu hàng giặc để hưởng chút lợi lộc, Thầy vẫn đứng trong hàng ngũ các cựu chiến binh và liên tiếp hai lần được bầu vào chức vụ lãnh đạo Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại với đa số tuyệt đối. Thầy sang Hoa Kỳ với chiếu khán du học. Những ai đã thông hiểu luật lệ di trú ở Hoa Kỳ  đều biết là chiếu khán này bắt buộc người thụ hưởng phải trở về nguyên quán sau khi đã tốt nghiệp. Như vậy phải có sự thoả thuận giữa hai chính phủ Mỹ và Việt, và phải là trường hợp đặc biệt, thì Thầy mới đổi được sang quy chế thường trú để nhận sự bổ nhiệm làm giảng sư của Trường Đại Học Colorado là một Trường công lập. Theo trong nhật báo Denver Post, là tờ báo lớn nhất ở miền Trung Hoa Kỳ mà em có bản in, là chính Ông Thượng nghị sĩ Peter H. Dominick của Đảng Cộng hoà đã gửi điện văn cho Thầy để báo tin này:

 

 “I have been advised by the Justice Department that you and your family have been adjusted as permanent residents of the US. If you shoud have difficulty in obtaining visas for your family, please let me know and I will be of assistance”.

 

Cũng theo tin báo này thì Ông nghị sĩ liên bang Roy McVicker của Đảng Dân chủ cũng viết một bức thư  tương tự cho Thầy.

Trong khoảng thời gian Thầy còn ở Colorado, và cũng là những năm chiến tranh bắt đầu leo thang, Thầy  đã được mời đi diễn thuyết ở nhiều nơi, kể cả làm thuyết trình ở Trường Võ Bị Không Quân Hoa Kỳ ở Colorado Springs và luôn luôn Thầy đã trình bầy cho sáng tỏ chính nghĩa quốc gia trong cuộc chiến chống cộng sản. Em gửi kèm theo đây một vài hình ảnh  để lại dưới đây chứng tỏ lòng nhiệt thành với đất nước của người con xa xứ.


gs ts nguyen xuan vinh

Thầy có xác nhận và cho em biết đây là những đề tài của những bài Thầy đã  viết cho tờ Denver Post, trong đó Thầy đã nói về sự dối trá của Việt cộng và Thầy cũng đã viết một bài dài đăng nhiều kỳ nói về sự lệ thuộc của họ vào đàn anh Trung cộng để lấy tiếp viện võ khí chuẩn bị cho cuộc tấn công miền Nam. Nếu anh biết là bài này Thầy viết vào năm 1965 tức là 3 năm trước khi Việt cộng mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân, và 35 năm trước khi bọn chúng nhượng đất dâng biển cho kẻ thù truyền đời ở phương Bắc của dân tộc ta thì anh hiểu ngay được Thầy quả là một người xuất chúng, đã tiên tri sự việc, đáng cho chúng ta ngưỡng mộ. Tấm hình vẽ là của hoạ sĩ Oliphant, người đã được giải Pulitzer về biếm họa, vì tâm đắc vời lời văn của Thầy trong bài “The Eagle’s Wings” mà vẽ hình trình bầy cho bài này đăng trên tuần báo Empire Magazine. Đặc biệt là vào Lễ Giáng Sinh năm 1965, Thầy đã viết một bài rất cảm động về chuyện trước đây Thầy đã vận động với Không quân Hoa Kỳ để hàng năm họ quyên góp quà Giáng Sinh gửi sang cho con em binh sĩ của Không quân Việt Nam. Tờ tuần báo Empire Magazine đã đăng quãng cáo bài này của Thầy ở ngoài bià, và sau khi báo in ra Thầy nhận được rất nhiều thư khen ngợi của độc giả. Em cũng cần nói thêm rằng Toà Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà ở Hoa Thịnh Đốn đã rất biết công cho Thầy đã làm những việc này và năm 1967 Hội Đồng các tướng lãnh đã mời Thầy về để xin ý kiến và Thầy đã khuyên qúy vị lãnh đạo quân đội lúc đó sớm tổ chức bầu cử để có một chính phủ lập hiến. Sau đó nền Đệ Nhị Cộng Hoà ra đời.


gs ts nguyen xuan vinh

Có những người chỉ hời hợt nhìn dáng bề ngoài mà cho Thầy chỉ nên làm nghề dậy học, không phải là một cấp chỉ huy, một nhà lãnh đạo để cho họ khẩu phục, tâm phục. Em nghĩ những người này thật sự chưa bao giờ làm việc cộng đồng, chưa bao giờ lộ mặt, và những lời viết của họ chỉ hàm ý chia rẽ. Trong những tài liệu về Thầy em nhận được từ Hội Khuyến Học có những tấm hình cho chúng ta thấy Thầy đã thực sự được các nhà lãnh đạo quân sự ở các nước Đồng Minh qúy trọng.

 

Dựa theo tài liệu thì em càng nhìn rõ trong sự giao tiếp giữa các quốc gia tuy có một số nghi lễ tối thiểu phải được tôn trọng khi có khách sang thăm viếng, em tin rằng chỉ khi nào mình thực sự gây được sự kính trọng của người đồng minh thì họ mới dành cho mình một sự tiếp đón nồng hậu. Khi Thầy làm Tư Lệnh KQVN thì Không Quân Trung Hoa Quốc gia là một quân chủng hùng mạnh và tinh nhuệ. Trong lần thăm viếng của Thầy họ đã dùng lễ nghi trọng thể để tiếp đón. Cờ vàng ba sọc đỏ đã tung bay ở phi trường Đài Bắc khi Thầy duyệt hàng quân danh dự và sau đó đã được giới thiệu với toàn Bộ tham mưu gồm những sĩ quan cấp tướng. Sau đó khi Thầy đến yết kiến Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, người đã ra tận cửa ngoài để đón hàng hậu bối, cũng chỉ vì chủ nhân biết rằng người khách phương xa tuy là một quân nhân nhưng cũng là một người có kiến thức rộng và rất thông hiểu lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc. .


gs ts nguyen xuan vinhgs ts nguyen xuan vinhgs ts nguyen xuan vinh
 

Những lần Thầy sang Hoa Kỳ để bàn thảo về sự hiện đại hoá Không quân Việt Nam, Thầy cũng được tiếp đón một cách long trọng vì họ biết Thầy đưa theo một phái đoàn gồm toàn những chuyên gia về hành quân, huấn luyện và kỹ thuật có trình độ. Thầy đã đưa về được cho Không quân Việt Nam những phi đoàn khu trục xử dụng những phi cơ yểm trợ không địa AD 6, đã tung hoành trên khắp 4 Vùng chiến thuật cho đến ngày cuối cùng. Bản thân của Thầy cũng được huấn luyện ở Trường Võ Bị Không Quân Pháp nổi tiếng trên thế giới. Nhiều năm sau, khi Thầy không còn ở trong quân đội mà khi tới thăm Trường Võ bị Không Quân Hoa Kỳ, Thầy cũng được mời nói chuyện với toàn thể sinh viên sĩ quan, hay khi tới thăm Bộ Chỉ huy Phòng không của Pháp dưới quyền của Đại tướng Guégen, là một  người bạn học đồng khoá, Thầy cũng được tiếp đón niềm nở như trên mấy tấm hình dưới đây em chuyển lại cho anh xem.

gs ts nguyen xuan vinhgs ts nguyen xuan vinhgs ts nguyen xuan vinh

 Dáng người của Thầy nho nhã và điềm đạm, nhưng Thầy được vinh tặng là phi công danh dự của Không Quân Trung Hoa Quốc Gia và Không Quân Hoàng Gia Thái, có cấp bằng phi công bay trời mù của Không Quân Pháp, và dĩ nhiên, Thầy là phi công của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà. Anh thử nghĩ xem đã mấy người hội được những điều kiện này, là được quyền đeo cánh bay của bốn nước. 

 

 Anh thân kính,

  

Đó chỉ là một vài điều Thầy đã làm mà không phải ai cũng hiểu được nếu Thầy không nói ra, dù rằng trong một lần phỏng vấn em đã thực sự hỏi về những sáng tác văn chương ngoại ngữ, những bài bình luận viết cho báo chí Hoa Kỳ để bênh vực chính nghĩa quốc gia mà Thầy đã chỉ trả lời là không đáng kể, nên không lưu trữ lại. Ngoài những tài liệu giảng dạy toán bằng Việt ngữ khi còn ở Việt Nam đã được đánh giá là toán giải cao cấp, trong khi ở nước người, ngoài những bài khảo cứu khoa học không gian đăng trên những báo quốc tế đã mang cho thầy sự kính nể của các khoa học gia đồng nghiệp và nhiều giải thưởng danh tiếng, thầy còn viết nhiều sách chuyên môn được dùng giảng dậy ở các đại học của những nước tân tiến. Cuốn sách mới nhất thầy viết có đề là “Flight Mechanics of High-Performance Aircraft” do nhà xuất bản Cambridge University Press ở Anh quốc in ra và phát hành. Sách viết về lý thuyết bay của phi cơ siêu thanh mà người viết lời giới thiệu, mà em nghĩ là xứng đáng nhất, là ông André Turcat, một phi công tài ba, tốt nghiệp Ecole Polytechnique ở Paris, Pháp quốc và ông cũng là Giám Đốc chỉnh nghiệm và phi công bay thử cho phi cơ Concorde là loại phi cơ chở hành khách độc nhất bay nhanh hơn âm thanh hai lần. Ông Turcat cũng là tiến sĩ quốc gia về văn chương ở Pháp và là người được chính phủ trao tặng Đệ Nhất đẳng Bắc đẩu Bội tinh. Em đã được thầy cho xem  cuốn sách với lời kết luận của bài giới thiệu rất ân cần và kính trọng:

 

“With my salutation for the author’s exceptional career, I am happy and honored to introduce the present treatise”.

 

Trong câu chuyện em được Thầy cho biết là Thầy xin ông Turcat viết bằng tiếng Pháp và Thầy sẽ dịch sang tiếng Anh và đưa cho ông duyệt lại trước khi ký giấy cho in. Trong nguyên bản viết tay bằng tiếng Pháp ông Turcat đã viết rằng:“En m’inclinant devant ses exploits extraordinaires…” nhưng Thầy đã không dịch nguyên văn là “Tôi nghiêng mình …” vì theo Thầy, khi xưa ở Pháp, ông Turcat là bậc đàn anh và đã là Thiếu tá Chỉ huy Trung Tâm huấn luyện phi công bay thử ở Brétigny trong khi Thầy mới còn là một khoá sinh tập bay sơ đẳng ở Trường Võ bị Không quân Salon de Provence. Vì lòng kính trọng một người đi trước mình mà Thầy đã làm nhẹ bớt câu văn đi.

 

 Cũng vì Thầy biết kính trọng những bậc thầy của mình, mà Thầy đã được các sinh viên đã theo học hết mực tôn kính. Gần đây em được xem cuốn DVD ghi lại Lễ trao giải Dirk Brouwer cho Thầy bởi American Astronautical Society vào cuối tháng Giêng năm 2007 ở nơi nghỉ mát Sedona, thuộc tiểu bang Arizona, em thấy một người Mỹ giới thiệu tiểu sử Thầy một cách chi tiết và long trọng, cả văn lẫn võ, khiến cả hội trường gồm toàn những khoa học gia tên tuổi phải đứng lên vỗ tay tán thưởng, và khi em hỏi thì được Thầy cho biết là giáo sư Daniel J Scheeres, cũng là một cựu sinh viên, nhưng hiện nay là một ngôi sao sáng trong giới khoa học gia không gian. Em đã giở chương trình điện toán Google và đánh tên ông này để tìm hiểu thêm xem người học trò ấy tài giỏi ra sao, thì được biết là ông mới nhận chức “A. Richard Seebass Chair Professor of Aerospace Engineering Sciences” của Đại học Colorado là một chức vị giáo sư được đặt ra để kỷ niệm cố Khoa Trưởng Kỹ Thuật của Đại Học. Giáo sư tiến sĩ Seebass cũng tốt nghiệp ờ Đại học Princeton, là nơi mà nhà bác học Eisntein tới nhận chức giáo sư khi di cư từ Thụy Sĩ sang Hoa Kỳ. Ông là một khoa học gia rất nổi tiếng về môn khí động lực học và đã có công đưa Trường Kỹ Thuật của Đại Học Colorado lên hàng quốc tế nên khi ông qua đời vào năm 2000, Trường đã hạ cờ xuống lưng cột để tỏ lòng luyến tiếc, và một vị mạnh thường quân đã tặng một số tiền lớn để lập ra chức vị giáo sư mà người đầu tiên được bổ nhiệm là vị học trò của Thầy Vinh. Em đã đọc tiếp trên Google về sự nghiệp của giáo sư tiến sĩ Scheeres thì được biết ông là chuyên gia khảo sát những qũy đạo cho các vệ tinh bay chung quanh các hành tinh nhỏ và cách đây mấy năm Hiệp hội những nhà thiên văn học đã chọn tiểu hành tinh tìm ra năm 1994 và tạm dùng con số 8887 để chính thức được đặt tên là tiểu hành tinh Scheeres. Em không thấu hiểu vấn đề để giới thiệu thêm về thành tích của tiến sĩ Scheeres nên chỉ in lại đây một đoạn viết trên Google như sau:

 

• Asteroid (8887) 1994LK1 renamed (8887) Scheeres. Scheeres has pioneered the investigation of the dynamics of orbits close to small, irregularly shaped minor planets. His research has included studies of the short-term evolution and the long-term stability of orbits around radar-derived models of (4179) Toutatis and (4769) Castalia. His work has far-reaching implications for the operation of spacecraft orbiting minor planets, for the cosmogony of satellites of minor planets and for understanding the distribution of nonescaping impact ejecta on small bodies.

Dictionary of Minor Planet Names, 4th Ed., L.D. Schmadel, Springer, 1999, pg. 1069.

 

Nếu anh muốn biết thêm thì tìm trong mục Curriculum Vitae và sẽ nhìn thấy tiểu sử rõ ràng và chi tiết hơn của GS Daniel J Scheeres và ngay ở dòng đầu tiên ông đề tên luận án tiến sĩ bảo vệ vào năm 1992 với những giòng chữ

 

Daniel J Scheeres

Ph.D. Aerospace Engineering The University of Michigan, 1992

On symmetric central configurations

with application to satellite motion about rings

Prof. N.X. Vinh, Chairman.

 

 

 

Anh ạ,

 

Trong những bài mà Thầy Vinh đã viết về những nhân vật lẫy lừng mà Thầy muốn cho giới trẻ Việt noi gương, mà có thể tìm ở Trang Điện Tử Hướng Dương (www.huongduong.com.au), có những người sống cách đây gần hai thế kỷ, như Toán gia  Joseph Louis Lagrange, như thi hào Nguyễn Du, hào quang của những người này vẫn còn chiếu sáng tới thế hệ sau. Em tuy không là sinh viên  giỏi  về Toán và Khoa học nhưng qua mấy lần phỏng vấn và viết về Thầy em cũng cảm thấy thích thú khi hiểu được rằng có những ngôi sao đã tắt từ hàng vạn năm mà bây giờ ánh sáng vẫn chưa tới được điạ cầu cho chúng ta biết. Vậy thì thế giới của chúng ta, vài ba trăm năm nữa về sau, trong tự điển thiên văn ghi tên những tiểu hành tinh, người ta vẫn còn thấy những thiên thể (4179) Toutatis và (4769) Castalia mà khoa học gia Daniel J Scheeres đã nghiên cứu hình thể và chuyển động quay quanh trục rồi từ đó tính ra qũy đạo của vệ tinh nhân tạo khi bay vòng quanh để thám sát những tiểu hành tinh này, và tất nhiên tiểu hành tinh (8887) Scheeres mang tên ông vẫn còn bay đâu đó trong Thái Dương Hệ. Nếu có ai tò mò muốn biết thêm về thành tích của khoa học gia không gian này thì cũng có thể dùng Google hay môt chương trình khác tối tân hơn để in ra tiểu sử thì ở hàng trên cùng bắt đầu từ khi ông bước chân vào ngành nghiên cứu cũng vẫn có những hàng chữ ở trên và thấy người thầy bảo trợ luận án tiến sĩ của ông ấy có một tên nghe lạ hoắc vì là tên tiếng Việt. Anh nghĩ làm sao khi mà tên Thầy được trân trọng như vậy mà có những người thiếu lương thiện nhiều lần định vấy bùn ở trên Net? Em tin rằng, qua với thời gian, tên của Thầy vẫn sáng chói, và trong cuộc đời dấn thân vì nghĩa vụ, Thầy không bao giờ bận tâm về những hạt bụi ở dưới gót chân! Và cổ nhân xưa thường ví những điều người ta nghe thì nhiều, nhưng thấy thì quá ít, và sự ít ỏi đó không làm sao có thể đào sâu lòng bể hay đi tới chân trời, nhưng điều sợ nhất là lòng thiếu lương thiện của một số người như anh đã từng bảo họ không xứng là kẻ sĩ dầu cho cầm được ngòi bút thép để viết lên đá, họ cũng không xứng là chiến sĩ nếu mang sợ hãi khi đối diện uy vũ của sự thật, dầu có cầm gươm ra trận cũng sẽ chỉ là những hàng tướng mà thôi.

 

Em đã cảm động biết Thầy không màng danh lợi, để khoác áo gấm về làng nghe lời xưng tụng, Thầy cũng  không gác bút hưởng nhàn khi tuổi đã xế chiều cần nghĩ ngơi, an dưỡng khi đã toại công hầu bởi vì chung quanh Thầy còn quá nhiều thử thách, các đồng đội của Thầy vẫn còn từng bước đi lên trong cuộc chiến âm thầm cho lý tưởng dân tộc. Em chỉ biết cầu mong cho thế hệ trẻ  mạnh dạn dấn thân để nối nghiệp Thầy.

 

Thư em viết chắc làm anh ngạc nhiên về cái tính hiếu kỳ của em vẫn không bỏ được, nghĩa là em đã để nhiều tâm sức để tìm được những gì mình muốn biết một cách thấu đáo, không nghe ai khi mình không thấy để hệ luỵ những kiến thức đang sẵn sàng mở ra, em vẫn còn nhớ mãi những lý luận xưa anh vẫn thường bảo em về bốn chữ “Góc Biển Chân Trời” để đi đến tận cùng của sự hiểu biết. Vâng, anh ạ, bây giờ trưởng thành thật sự thì lý thuyết đó đã  khơi dậy trong em một cảm niệm sâu lắng về ý niệm giữa hai chữ thiện và ác, và em thấy nếu ai làm tổn hại phương danh một người để đổi lấy sự thoả mãn lòng đố kỵ thì sẽ là một vực thẳm cho chính họ và điều ấy sẽ đóng lại mặt trời trong cõi băng giá. 

 

Để kết thúc lá thư gửi anh, em cũng ước ao nhiều người hiểu được như hôm nay khi em được nói với anh, và em mượn câu của Charles Caleb  Colton đã  viết:

 

 “Men are born with two eyes, but one tongue, in order that they should see twice as much as they say”.

 

Bên ngoài trời đang mưa, những giọt mưa Thu thật se lạnh và làm em rất nhớ thời niên thiếu của mình, nhưng giờ đây không có ông Einstein trên tường, không có những bụi phấn bay trong căn phòng nhỏ, em đã đối diện với cuộc đời nhiều giông bão và hạt bụi nào cay mắt để em thấy được Góc Biển Chân Trời.

 

Phiến Đan

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn